Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

LỜI CHÚA: THẾ GIAN GHÉT ANH EM (Thứ 7 tuần 5 Phục sinh)

Thế gian ghét anh em (28.5.2011 – Thứ bảy Tuần 5 Phục sinh)


Thế gian ghét anh em

Lời Chúa: Ga 15, 18-21

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”


Suy niệm:

Khi Đức Giêsu còn sống bên các môn đệ,
chưa xảy ra chuyện các môn đệ bị thù ghét một cách nghiêm trọng.
Nhưng khi Tin Mừng Gioan được viết gần xong, thì chuyện đó đã xảy ra rồi.
Các Kitô hữu gốc Do thái đã bị trục xuất ra khỏi hội đường,
và người Rôma đã bách hại các Kitô hữu không nương tay.
Bài Tin Mừng hôm nay là một lời tiên báo của Đức Giêsu
về số phận của các Kitô hữu, trong mọi thời đại.
Đức Giêsu đã nói đến việc mình tự nguyện hy sinh mạng sống,
vì Ngài là Mục tử nhân lành muốn bảo vệ đàn chiên (Ga 10, 11. 17-18).
Ngài sẽ phải chiến đấu gay gắt để chống lại sói dữ hay kẻ trộm.
Đức Giêsu cũng nói đến việc Ngài sẽ hy sinh mạng sống
cho bạn hữu của mình là các môn đệ (Ga 15, 12-13).
Ngài sẽ xung đột với tên Thủ lãnh thế gian (Ga 14, 30).
Thế gian là một thế lực thù ghét và âm mưu chống lại Ngài.
Một số nhà lãnh đạo Do thái giáo đã đứng hẳn về phía thế gian ấy.
Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá là đỉnh điểm của sự thù ghét.
Thủ lãnh thế gian đã có được một chiến thắng tạm thời.
Nhưng chính sự thua cuộc của Đức Giêsu lại vén mở tình yêu Thiên Chúa,
và là khởi đầu cho một chiến thắng vẻ vang hơn, chiến thắng chính Tử thần.
Những môn đệ Đức Giêsu cũng phải chia sẻ số phận của Thầy.
Không phải các môn đệ luôn luôn được thế gian đón nhận.
“Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em.” (c. 20).
“Nếu thế gian ghét anh em,
hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước khi nó ghét anh em” (c. 18).
Bị ghét bỏ, bị bắt bớ, bị giết hại: đó là thân phận của Thầy Giêsu,
và của những học trò đi theo Thầy, mãi đến tận thế.
Nếu thế gian có thái độ thù nghịch với các Kitô hữu,
lý do là vì họ không thuộc về thế gian, và đã được tách khỏi thế gian (c. 19).
Tuy nhiên, họ vẫn không bị cất khỏi thế gian (Ga 17, 15),
mà còn được sai vào trong thế gian để biến đổi thế gian đó (Ga 17, 18).
Chính cái thế giằng co thuộc về bản chất của người Kitô hữu:
vừa ở trong thế gian, lại vừa không thuộc về nó,
vừa được chọn ra khỏi thế gian, lại vừa được sai vào trong nó,
đã đưa người môn đệ vào những thách đố khôn lường.
Theo một nghiên cứu năm 2002 của nhà báo người Ý, ông Antonio Socci,
có khoảng 70 triệu người Kitô hữu chết vì đức tin trong 20 thế kỷ qua.
Nhưng chỉ riêng trong thế kỷ 20, đã có hơn 45 triệu người bị chết.
Chúng ta không kiểm chứng được nghiên cứu của ông này,
nhưng chúng ta biết cuộc bách hại các Kitô hữu vẫn xảy ra ở nhiều nơi.
Xin được ơn thuộc trọn về Giêsu dù phải lội ngược dòng với thế gian.


Cầu nguyện:

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận,
xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt,
xin dạy con biết yêu thương tự hiến.

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ,
xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị,
xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi,
Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng,
xin cho các kitô hữu chúng con
trở thành tình yêu
cho trái tim khô cằn của thế giới.

Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài,
biết sống nhờ và sống cho tha nhân,
biết quảng đại cho đi
và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy Ba Ngôi chí thánh,
xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa
ở sâu thẳm lòng chúng con,
và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

TẠI SAO PHẢI SẠCH TỘI TRỌNG MỚI ĐƯỢC RƯỚC MÌNH MÁU CHÚA?

TẠI SAO PHẢI SẠCH TỘI TRỌNG MỚI ĐƯỢC RƯỚC MÌNH MÁU CHÚA?


Hỏi: Xin Cha giải thích thắc mắc sau đây:

Xưa Chúa Giêsu thường đến ăn uống với những người tội lỗi như bọn thu thuế. Trong Bữa Tiệc Ly cuối cùng, Chúa đã cho Phêrô và Giuđa "ăn và uống" Mình Máu Chúa như tất cả các Tông Đồ khác hiện diện.

Vậy tại sao bây giờ Giáo Hội dạy phải sạch tội trọng mới được rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô.?


Trả lời:

I- Trước hết, xin tự hỏi : tại sao Chúa Giêsu giao du với những người bị xã hội Do Thái coi là tội lỗi?

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần đọc lại lời Chúa Giêsu nói với nhóm biệt phái xưa kia: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” ( Mt 9:12) Thật vậy, Chúa Kitô đến để tìm những người tội lỗi và kêu gọi họ ăn năn sám hối để được tha thứ và cứu rỗi. Do đó, Chúa tự ví mình như thầy thuốc đi tìm bệnh nhân để cứu chữa chứ không tìm người mạnh khoẻ để săn sóc.

Vì thế, Chúa đã không ngần ngại đến nhà những người thu thuế, tức những người bị bọn Biệt phái (Pharisi) coi là người tội lỗi để dùng bữa với họ. Chúa còn làm bạn với cả những người có đời sống tai tiếng như Mađalêna.Nhưng thử hỏi: Chúa đồng bàn với người bị coi là tội lỗi cũng như làm bạn với phụ nữ tai tiếng kia với mục đích gì? Có phải là để công nhận nếp sống tội lỗi của họ hay để kêu gọi họ từ bỏ đời sống đó để trở nên hoàn thiện?

Chắc chắn chúng ta phải tin rằng Chúa Giêsu không đồng bàn, hay giao du với những người bị xã hội lên án là kẻ tội lỗi để đồng hoá với họ hay tán thành cách sống của họ. Chúa đến với họ để mời gọi họ từ bỏ nếp sống tội lỗi để trở nên tốt lành như Chúa mong muốn mà thôi. Đây chính là mục đích của Chúa đến trần gian cách nay trên 2000 năm để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội như Chúa đã nói với các môn đệ xưa kia: “...Con Người đến để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (x Mt 20:28).

Tuy nhiên, trong suốt 3 năm rao giảng Tin mừng Cứu độ, Chúa Giêsu chưa một lần nào đã nói với ai rằng : “các con đừng lo nghĩ gì về đời sống của mình. Cứ sống và làm những gì mình thích rồi sau khi chết, Ta sẽ cho tất cả vào Thiên đàng để vui hưởng hạnh phúc muôn đời vì Thiên Chúa, Cha của các con là Đấng tốt lành, không muốn bắt lỗi ai về bất cứ điều gì.”

Ngược lại, ngay khi mở đầu cho sứ vụ công khai rao giảng Tin Mừng Cứu độ, Chúa Giêsu đã kêu gọi dân chúng thời đó như sau: “Thời kỳ đã mãn. Nước Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” ( x.Mc 1:15).

Sám hối và tin vào Tin Mừng có nghĩa là từ bỏ tội lỗi và sống theo đường lối của Thiên Chúa, đối nghịch hoàn toàn với đường lối của con người, của trần gian, của “văn hoá sự chết” đang lộng hành ở khắp nơi trên thế giới ngày nay… Vì thế, trong suốt thời gian rao giảng, Chúa Giêsu đã nhiều lần đưa ra những lời ngăm đe hay cảnh cáo nghiêm khắc như sau:

“Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.” (Lc 13:24).

Hay:

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lậy Chúa, Lậy Chúa’ là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi.” (Mt 7:12)

Hoặc nghiêm khắc hơn nữa:

“Nếu chân của ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục.” ( Mc 9:45)

Sở dĩ Chúa phải đưa ra những lời ngăm đe nghiêm khắc nói trên vì con người còn có tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người xử dụng để hoặc chọn lựa sống theo đường lối của Thiên Chúa hay khước từ Người để sống theo ý riêng và làm những điều trái nghịch với lương tâm, với thánh ý của Cha trên Trời, là Đấng trọn tốt ,trọn lành.

Như thế đủ cho thấy là Chúa Giêsu không đến để thoả hiệp với sự dữ, với tội lỗi của trần gian, mặc dù Chúa có đến ăn uống hoặc giao du với những người bị mang tiếng là tội lỗi xấu xa như những người thu thuế và phụ nữ tai tiếng thời đó vì lý do như đã nói ở trên.

Liên quan đến hai Tông Đồ Phêrô và Giuđa , Chúa Giêsu cũng đã khoan dung cho họ cơ hội để thay đổi ý định hoặc lưu ý đến sự yếu đuối của mình. Trước hết, trong bữa ăn sau cùng , Chúa đã nói với tất cả 12 Tông Đồ hiện hiện : " Thầy bảo thật cho anh em , một người trong anh em sẽ nộp Thầy." ( Mt 26:18. Mc 14: 18; Lc 22: 21-22; Ga 17: 12). Chúa nói thế để đánh động Giuđa một lần cuối trước khi y ra tay hành động.Y biết điều này, nhưng vẫn trơ trẽn hỏi Chúa : " Rap-bi ( thưa Thầy) chẳng lẽ con sao,? ". Chúa trả lời : " chính anh nói đó." ( Mt 26: 25). Dầu vậy, Giuđa vẫn cứng lòng, nên ăn Mình Chúa xong, y đã ra đi vào đêm tối, tìm gặp bọn luật sĩ và tư tế Do Thái để trao nộp Chúa như Người đã nói trước đó trong Bữa Tiệc Ly. Như thế có nghĩa là Giuđa đã xử dụng ý muốn tự do ( free will) của mình để bán Chúa Giêsu lấy 30 đồng bạc của bọn giáo sĩ Do Thái thù ghét Chúa. Về phần Phêrô thì khác. Ông này quá tự tin nơi mình nên đã quả quyết : " Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy." ( Mc 14: 31). Nhưng Phêrô đã vấp ngã không phải vì cố ý dùng tự do của mình để chối Chúa mà vì yếu đuối con người mà ông không để ý đến khi nghe Chúa cảnh cảo ông buổi ban chiều hôm đó : " Thầy bảo thật anh : hôm nay , nội đêm nay : gà chưa gáy hai lần thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần." ( Mc 14:30 ) Và sự việc đã xảy ra đúng như Chúa đã cảnh cáo Phêrô. Lúc đó Phêrô không tin và cũng không có ý định sẽ chối Thầy như Chúa đã tiên báo. Nhưng vì ông quá tự tin nên vấp ngã, chứ không phải vì cố tình ngoan cố cho đến phút chót như Giuđa. Như thế việc Chúa cho Giuđa và Phêrô "rước Lễ" tức ăn thịt và uống máu Chúa trong Bữa Tiệc Ly không có nghĩa là Chúa không biết đến sự phản bội của Giuđa và chối Chúa của Phêrô.Chúa biết nhưng vẫn tôn trọng ý muôn tự do để họ tự quyết định việc họ muốn làm ( Giuđa phản bội vì tham tiền ) ( Phêrô chối Chúa vì yếu đuối và sợ hãi bọn Do Thái).

II- Giáo lý của Giáo Hội về việc rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô.

Nhưng không thể lý luận rằng Chúa Giêsu từng ăn uống với “những người tội lỗi”, từng cho Guiđa và Phêrô "ăn thịt và uống máu" Người trong bữa tiệc ly cuối cùng do đó không cần phải sạch tội trọng mới được rước Mình Máu Thánh Chúa như Giáo Hội dạy ngày nay..

Lý do trước hết như vừa nói ở trên: Chúa ăn uống với những người bị xã hội coi là "kẻ tội lỗi " không có nghĩa là Chúa chấp nhận hay tán đồng cách sống của họ mà thực ra Chúa đồng bàn với họ, vì Người muốn kêu gọi họ sám hối, thay đổi cách sống để được cứu rỗi.

Chúa vẫn rửa chân và cho Giuđa và Phêrô cũng như cho họ ăn thịt và uống máu Người trong Bữa ăn sau hết dù biết họ sẽ phản bội và chối Chúa vì Chúa đã kêu gọi Giuđa lần chót và cảnh cáo Phêrô, nhưng vì Giuđa cứng lòng nên đã cố tình phạm tội phản bội và tuyệt vọng đi treo cổ tự tử sau đó. Ngược lại, Phêrô chối Thầy vì yếu đuối con người, nhưng đã biết ăn năn thống hối sau đó nên được tha thứ và còn được trao cho trọng trách lãnh đạo Giáo Hội để "chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Thầy".( Ga 21: 15-16)

Chắc chắn Chúa chê ghét tội lỗi nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết hối lỗi và xin tha thứ.Tuy nhiên, tội vẫn luôn luôn là trở ngại lớn lao nhất để ngăn cách con người với Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành. Do đó, muốn gần Chúa, muốn là bạn hữu nghĩa thiết với Ngài thì điều kiện cần thiết là phải xa tránh mọi tội lỗi.

Liên quan đến việc rước Mình Máu Chúa Kitô khi tham dự Thánh lễ, Giáo Hội dạy rằng: “Ai muốn rước lấy Chúa Kitô trong hiệp lễ Tạ Ơn (Eucharistic communion) thì phải ở trong tình trạng có ân sủng. Ai biết mình có tội trọng thì không được làm lễ (nếu là linh mục) và bước tới Bàn Tiệc Thánh Thể để rước Mình Thánh Chúa, nếu trước đó đã không nhận được ơn tha tội qua bí tích hòa giải( xưng tội ).” (x SLGHCG, số 1415; giáo luật số 916). Sở dĩ thế vì cũng theo giáo lý của Giáo Hội, thì “tội trọng làm mất hoàn toàn sự hiệp thông (communion) giữa ta với Thiên Chúa và nếu chết không kịp ăn năn thống hối và được tha tội qua bí tích hoà giải thì phải chịu án phạt đời đời trong nơi gọi là hoả ngục.” (x. SGLGHCG, số 1033).

Đây là ác tính và hậu quả rất tai hại của tội trọng (mortal sin) vì tội này đẩy con người ra khỏi tình yêu và lòng khoan dung của Thiên Chúa do cố ý hành động nghịch với tình yêu và sự trọn lành của Người. Khi muốn rước Chúa Kitô vào lòng tức là muốn hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa trong tình yêu và sự trọn hảo, tức là trở nên làm một với Người. Nhưng khi có tội trọng thì con người đã đối nghịch hoàn toàn với Thiên Chúa, xa lìa tình yêu và sự trọn lành của Người. Như vậy làm sao có sự hiệp thông được nữa?

Tóm lại, Chúa luôn giang tay chờ đón kẻ có tội trở về để tha thứ, mặc dù Ngài gớm ghét tội lỗi.Vậy muốn kết hiệp với Chúa qua bí tích Thánh Thể thì cần thiết phải sạch tội, nhất là tội trọng, vì khi phạm tội này, con người đã cố tình quay lưng lại với Thiên Chúa, cố ý từ khước Người để chọn sự dữ đối nghịch hoàn toàn với tình yêu và bản tính trọn hảo của Người.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

PHÉP THÔNG CÔNG (tt 2)

Trước hết, tôi xin cám ơn độc giả đã nhắc cho tôi xem lại khoản luật số 1398. Quả thật theo khoản luật này thì tôi đã lầm mà liệt kê tội phá thai vào loại phán kết. Tôi cũng đã xem lại đoạn nói về bảy vạ tuyệt thông đã kê khai trong bài. Khi xem lại tôi thấy những tội này đều thuộc loại tiền kết chứ không phải chỉ có bốn vạ đầu như tôi đã viết. Như vậy ai phạm những tội này thì đều bị vạ tuyệt thông tiền kết chứ cần không phải đợi tuyên án gì cả. Do đó những người ấy đã bị vạ tuyệt thông rồi, và vạ này chỉ Tòa Thánh mới có quyền tha (trừ vạ phá thá thai được ban quyền cho các giám mục rồi tiếp đến cho các cha giải tội, vì nạn phá thai quá lan tràn).


Ngoài ra trong phần phản hồi, có mấy độc giả cũng yêu cầu tôi nói rõ thêm về một vài điểm, Vậy, dưới đây tôi xin lần lượt trả lời theo thứ tự :


1. Độc giả số 2 đã được độc giả số 3 trả lời : “Bỏ đạo, rối đạo, ly khai khỏi Giáo Hội Rô-ma” là đương nhiên bị vạ tuyệt thông.


2. Độc giả số 4 hỏi về việc Giáo Hội sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II áp dụng vạ tuyệt thông thế nào ? Giáo Hội rút bớt các vạ, không còn dể nhiều như trước kia nữa. Ngoài những vạ tiền kết tức khắc bị phạt, còn những vạ khác vẫn phạt, khi không còn cách nào khác để làm cho người có lỗi sửa mình, nhưng với cung cách của nhà mục tử nhân lành chứ không phải với thái độ của vị quan tòa bất khoan nhượng.


Các linh mục không có quyền ra vạ thuyệt thông. Quyền này là của các giám mục trong các vạ thuộc thẩm quyền của các ngài, như phạt vạ “treo chén” (suspensus a divinis), và “cấm chỉ” (interdictum)v.v…


3. Phản hồi số 9


Vạ là để phạt những tội bên ngoài. Những người lỗi lời khấn dòng mắc tội nặng nhẹ tùy điều lỗi phạm, nhưng thường là tội bên trong, chỉ trừ khi lỗi lời khấn đức khiết tịnh bên ngoài, bằng cách hồi tục kết hôn trước khi được tháo giải lời khấn. Trong trường hợp này, người lỗi phạm bị vạ tuyệt thông.


Người mắc tội phá thai, khi đi xưng tội với lòng thành thật sám hối và quyết chí chừa bỏ, được tha cả tội lẫn vạ.


4. Phản hồi số 15


Năm 1954, Đức Cha Khuê phạt vạ “treo chén” các linh mục Hà nội di cư vào Nam, mà không có phép của ngài. Còn trường hợp các linh mục vượt biên, không biết có phép hay không, không thấy các đức cha trong Nam ngoài Bắc nói gì.


Kết luận


Hoàn cảnh chiến tranh lâu dài và thực trạng xã hội trong chế độ vô thần đã làm sai lạc ý thức về tội và các luật lệ trong Hội thánh. Nay thiết tưởng đã đến lúc các vị có thẩm quyền cần chấn chỉnh lại.


L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.

CỦNG CỐ ĐỨC TIN CHO GIỚI TRẺ

Củng Cố Đức Tin Cho Lớp Trẻ



Posted Sun, 03/13/2011 - 11:04 by athu

Tác giả Carol Cimino, SSJ, Tiến sĩ Giáo dục (*)

Người mẹ than: “Tôi không thể hiểu được! Tôi đã cho nó đi học trường Công giáo 12 năm mà thậm chí nó không thèm đi nhà thờ!”.
Nếu tôi có tiền mỗi lần người cha hoặc người mẹ nói những từ này (thay thế từ “giáo dục tôn giáo” cho từ “trường học Công giáo”) thì tôi sẽ thất nghiệp mà có lợi. Khi một số cha mẹ không thể chăm sóc, thậm chí là không chú ý, đa số các cha mẹ và ngay cả ông bà cũng ngạc nhiên thấy con cháu mình, nhất là độ tuổi 16-22, có vẻ muốn từ bỏ di sản của mình là đức tin Công giáo.


Tôi có hơn 40 năm làm giáo viên và giáo lý viên, đó là những gì tôi biết ở giới trẻ đã động viên tôi đưa ra vài lời khuyên đối với các giáo viên, các giáo lý viên, các bậc ông bà và cha mẹ. Trong khi không có gì đảm bảo rằng con cháu chúng ta vẫn gần gũi với đức tin Công giáo, vẫn có vài cách tốt để trau dồi đức tin của chúng – và những điều chân thật quan trọng để chúng nhớ:


1. Chất vấn là chuyện bình thường. Có lúc người lớn chúng ta cố gắng hiểu (và có thể cố gắng nhớ) rằng chất vấn trước đây khiến cho niềm tin là một phần trong quá trình trưởng thành.


2. Học hỏi qua kinh nghiệm. Giới trẻ cho những kinh nghiệm là “khủng khiếp”. Vì ông bà và cha mẹ có thể xây dựng trong những khoảnh khắc đó để thúc giục con cháu chú ý tới những kinh nghiệm thực sự khủng khiếp để tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của sự thánh trong cuộc sống hằng ngày, dù các lý do đó khiến một người đạo đức, dân kỹ thuật, một đứa bé, hoặc bất kỳ thứ gì có ấn tượng hay không. Tâm linh Công giáo phát triển trên sự khủng khiếp và kỳ diệu, những điều khủng khiếp và kỳ diệu hằng ngày dẫn chúng ta vào các bí tích một cách tự nhiên.


3. Hãy biết rằng sự thận trọng của Giáo hội một phần là cách đáp lại mức độ thường xuyên con cháu chúng ta bị những thần tượng làm thất vọng. Căn cứ vào những sự phản bội thường xuyên của những có vẻ tốt đó, chúng nghe nói về các phương tiện truyền thông, có thể hiểu rằng chúng không thể tự động tin và tôn trọng các anh hùng – các thánh và những người thánh thiện – chúng ta đặt ra trước mặt chùng. Những vụ bê bối mới đây trong giáo hội cũng làm cho người trẻ – kể cả những người lớn – nghi ngờ các giáo sĩ và những người làm việc trong các bộ của giáo hội. Không lạ gì chúng nghi ngờ khi chúng ta nói với chúng: “Hãy tin tôi, đây là sự thật”. Chúng ta cần tránh kiểu nói: “Vì giáo hội nói vậy” hoặc “Vì tôi nói vậy”, thay vì thế hãy giúp chúng hiểu tại sao chúng ta tin những gì chúng ta làm, và tại sao chúng ta yêu mến giáo hội mặc dù giáo hội vẫn có những bất toàn.


4. Hãy biết rằng cha mẹ là những người ảnh hưởng nhiều nhất trong đời sống con cái. Gương sáng của cha mẹ là khí cụ mạnh nhất mà chúng ta phải giúp giữ Thiên Chúa và tôn giáo trong đời sống của con cái. Tôi tin rằng việc thảo luận về đức tin, về vị trí giáo hội, về việc thờ phượng và cầu nguyện, về vị trí của Thiên Chúa trong các vấn đề luân lý, đạo đức và các mối quan hệ nên ở trong phạm vi kinh nghiệm gia đình. Tôi luôn cảm thấy rất gần gũi với các học trò của tôi khi chúng tôi chia sẻ những câu chuyện về đức tin, đó là những lúc an ủi duy nhất vì biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta, hoặc là những lúc bình an và hy vọng nhờ Thiên Chúa, Đấng chỉ muốn những điều tốt nhất cho chúng ta. Không cha mẹ nào muốn bày tỏ kinh nghiệm đó cho giáo viên, đó là quyền ưu tiên của cha mẹ. Cha mẹ có thể cảm thấy thoải mái kể những câu chuyện riêng bản thân vì con cái sẽ biết tầm quan trọng của mối quan hệ cá nhân với Thiên Chúa. Trong lúc khó khăn, việc cha mẹ tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa giúp an ủi con cái và giúp chúng hiểu rằng làm người lớn nghĩa là làm cho Thiên Chúa hữu hình và có thể đạt tới.


5. Đừng ngại hỏi các giáo viên và các giáo lý viên về cách trả lời các vấn đề tôn giáo và tâm linh. Mối quan hệ giữa cha mẹ và chương trình giáo dục tôn giáo của giáo xứ hoặc trường học Công giáo nên hợp tác với nhau. Cha mẹ nên cảm thấy thoải mái tận dụng khi có “cơ hội giáo dục”. Các giáo viên được đào tạo về các giai đoạn phát triển của trẻ em, và nên giúp đỡ các bậc cha mẹ góp các câu hỏi, mối bận tâm, và các vấn đề trước khi sự cố xảy ra minh nhiên.


6. Khuyến khích vai trò của ông bà trong đời sống người trẻ. Tôi tin rằng có sự kỳ diệu trong việc cách quãng một thế hệ. Ông bà có viễn cảnh giáo dục cha mẹ của thiếu niên và biết quan ngại rằng cha mẹ là nguyên nhân và có kinh nghiệm. Đối với nhiều người trẻ, ông bà là những người có thể có uy tín và có thời gian lắng nghe những mối lo âu của chúng về Thiên Chúa và cuộc sống. Hãy khuyến khích ông bà góp phần giáo dục đức tin cho chúng.
Ông bà có kinh nghiệm về đức tin. Người già có thể góp những câu chuyện và kinh nghiệm mà họ coi đó là xây dựng sự khôn ngoan của “quyền công dân Nước Trời”. Khi cha mẹ thường bị căng thẳng vì công việc và trách nhiệm, ông bà có thể đảm nhiệm công việc giáo dục đức tin cho lớp trẻ.


7. Nuôi dưỡng sự hiểu biết những gì ý nghĩa thuộc về Giáo hội Công giáo ở người trẻ, nhất là thiếu niên. Viện Nghiên cứu Quốc gia về Tuổi trẻ và Tôn giáo cho biết rằng tôn giáo và Thiên Chúa thực sự quan trọng trong đời sống người trẻ, nhưng vấn đề chính là “chủ nghĩa cái gì” (whatever-ism) khi tôn giáo và giáo hội bỏ chúng lạnh lẽo.
Khoảng 20 năm trước, tôi có thể nhớ ngày Chúa nhật Phục sinh ở Rôma. Tôi đi cùng một nhóm thiếu niên dự lễ Phục sinh tại Quảng trường Thánh Phêrô. Từ phía sau, tôi nghe một đứa nói nhỏ: “Sơ ơi!”. Stephen lặp lại và lách qua đám đông để đến gần tôi. “Gì vậy?”, tôi hỏi. “Thánh lễ”, nó nói. “Cũng giống nhau!”. Nó so sánh với nơi khác, thánh lễ là thánh lễ, và giáo hội là giáo hội.
Tôi cũng có kinh nghiệm tham dự thánh lễ dành cho thiếu niên ở Arizona, ở đây chúng toàn mặc áo thun có hàng chữ “Hãy hãnh diện là người Công giáo” phía trước ngực. Tôi không hoàn toàn thú vị với cách diễn tả mang tính bài ngoại (xenophobia) như vậy, nhưng tôi phải công nhận rằng điều này thích hợp hơn để tụ họp màu sắc thành hàng dài. Điều đó theo tôi về đến tận nhà mà nghĩ rằng có sự tìm kiếm vĩnh cửu này của tuổi trẻ đối với mối quan hệ, sự sở hữu.


8. Đừng sợ nếu con cái tuổi thiếu niên không quan tâm tôn giáo. Chúng ta cần giúp con cháu thấm nhuần và sống đức tin sống động bằng cách thể hiện và bằng gương sáng mà giáo hội là ngôi nhà luôn chào đón chúng, nơi chúng có thể bày tỏ mối nghi ngờ và lo sợ, nơi có sứ điệp của Chúa Giêsu, và là nơi mai này chúng có thể đưa con cái của chúng đến. Nếu chúng không nối kết với giáo hội khi chúng còn nhỏ, chúng không bao giờ biết cách gần gũi Thiên Chúa trong tâm hồn. Chúng ta chỉ có thể để cửa mở rộng, tiếp tục cầu nguyện và phó thác chúng cho Thiên Chúa.

(*) Nữ tu Carol Cimino thuộc dòng Nữ tử Thánh Giuse thành Rochester, New York. Chị là một giáo viên và là administrator về giáo dục Công giáo và là người đồng điều hành Viện Lãnh đạo trường Công giáo tại ĐH Manhattan. Chị là tác giả cuốn Come Gather Round: Time-Tested Lessons From a Lifelong Catechist.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Catholic Digest

10 ĐIỀU TRẺ EM CÔNG GIÁO CẦN BIẾT

10 điều trẻ em Công giáo cần biết

Posted Sat, 03/26/2011 - 10:34 by athu

Tác giả Scott P. Richert



Dạy trẻ cầu nguyện có thể là việc khó. Tốt nhất là bắt đầu với những kinh phổ biến để trẻ có thể dễ nhớ. Trẻ sắp rước lễ lần đầu nên nhớ các kinh dưới đây, còn lời nguyện trước bữa ăn và kinh Thiên thần Bản mệnh là những kinh nguyện mà các trẻ còn rất nhỏ cũng có thể đọc hằng ngày.


1. Dấu Thánh giá. Dấu Thánh Giá là lời nguyện cơ bản nhất của Công giáo, mặc dù chúng ta không thường nghĩ vậy. Chúng ta nên dạy con cái làm dấu với lòng tôn kính trước và sau mỗi kinh nguyện. Vấn đề phổ biến nhất là trẻ tập làm dấu Thánh Giá bằng tay trái thay vì tay phải, vấn đề phổ biến thứ hai là vai phải trước vai trái.


2. Kinh Lạy Cha. Chúng ta nên đọc kinh Lạy Cha hằng ngày với con cái. Đó là lời nguyện tốt lành khi thức dậy và trước khi đi ngủ. Hãy chú ý cách phát âm từng chữ của trẻ; có nhiều khi hiểu sai và phát âm sai.


3. Kinh Kính Mừng. Trẻ thường hướng về Đức Mẹ, và việc học kinh Kính Mừng sớm khiến chúng dễ nuôi dưỡng lòng sùng kính Đức Mẹ và dần dần cho chúng học các kinh về Đức Mẹ dài hơn, chẳng hạn lần chuỗi Mân Côi. Một cách hay để dạy trẻ kinh Kính Mừng là bạn đọc phần một (Kính mừng Maria… và Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ), rồi để trẻ đọc phần hai (Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời…).


4. Kinh Sáng Danh. Kinh Sáng Danh là kinh rất đơn giản mà trẻ em nào cũng có thể nhớ như làm dấu Thánh Giá. Nếu trẻ khó nhớ dùng tay nào để làm dấu (hoặc vai nào trước, vai nào sau), bạn có thể vừa làm dấu vừa đọc kinh Sáng Danh, như Công giáo theo Nghi thức Đông phương và Chính thống giáo áp dụng.


5. Kinh Tin. Kinh Tin, kinh Cậy, kinh Mến là những kinh nguyện buổi sáng phổ biến. Nếu bạn giúp con cái nhớ các kinh này, chúng sẽ luôn có cách cầu nguyện mỗi sáng nếu chúng không có thời gian đọc những kinh dài hơn.


6. Kinh Cậy. Kinh Cậy là kinh nguyện rất tốt cho trẻ đến tuổi đi học. Hãy khuyến khích trẻ học thuộc để chúng có thể cầu nguyện trước khi làm bài kiểm tra. Không có cách thay thế cho việc học hành, đó là cách tốt cho học sinh nhận biết chúng không thể dựa vào sức riêng mình.


7. Kinh Mến. Tuổi thơ là thời gian đầy những cảm xúc sâu sắc, trẻ thường chịu đựng và hiểu những điều thực tế cùng bạn bè và bạn học. Mục đích ban đầu của kinh Mến là bày tỏ tình yêu mình dành cho Thiên Chúa, kinh nguyện này hàng ngày nhắc nhớ trẻ cố gắng tập tha thứ và yêu thương tha nhân.


8. Kinh Ăn Năn Tội. Kinh Ăn Năn Tội là kinh nguyện chính đối với Bí tích Hoà Giải, nhưng chúng ta cũng nên khuyến khích trẻ đọc kinh này mỗi tối trước khi ngủ. Những trẻ mới xưng tội lần đầu cũng nên xét mình nhanh trước khi đọc kinh Ăn Năn Tội.


9. Lời nguyện trước bữa ăn. Truyền động thái cho con cái có thể rất khó khi xung quanh chúng có nhiều thứ đến mức thừa mứa (overabundance). Lời nguyện trước bữa ăn là cách tốt để nhắc nhở chúng (và cả chính chúng ta!) rằng mọi thứ chúng ta có đều do Thiên Chúa ban. Hãy tạo thói quen cầu nguyện trước bữa ăn để giáo dục lòng biết ơn và cầu nguyện cho những người đã qua đời.


10. Kinh Thiên thần Bản mệnh. Với lòng sùng kính Đức Mẹ, trẻ có thiên hướng về niềm tin vào Thiên thần Bản mệnh. Giáo dục niềm tin đó ngay từ khi chúng còn nhỏ sẽ giúp trẻ khỏi nghi ngờ về sau. Khi trẻ lớn hơn, hãy khuyến khích chúng supplement kinh Thiên thần Bản mệnh bằng lời cầu riêng tư hơn đối với Thiên thần Bản mệnh.

Trầm Thiên Thu


Nguồn: Chuyển ngữ từ Catholicism.about.com

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG

Bí quyết thành công

Posted Fri, 12/10/2010 - 20:09 by athu

Bí quyết thành công

Những người thành công suy nghĩ như thế nào? Điều gì điều khiển họ? Sau đây là những bí quyết được đúc kết từ kinh nghiệm của nhiều người.

1. Chịu trách nhiệm

Người ta không thể kiểm soát thiên nhiên, quá khứ và người khác. Nhưng người ta khả dĩ kiểm soát tư tưởng và hành động của mình. Chịu trách nhiệm về cuộc đời mình là một tác động mạnh nhất mà bạn có thể làm được.

Les Brown bị cha mẹ bỏ rơi từ lúc mới sinh và bị coi là thiểu năng trí tuệ. Nhưng ông không đánh mất hy vọng. Và Brown đã trở thành chính khách. Ngày nay, mỗi giờ ông kiếm được 20.000 USD với tư cách là một trong số diễn giả hàng đầu thế giới.

2. Có mục đích

Là làm những thứ bạn hoàn toàn tin mình đủ khả năng và cố gắng đủ mức để đạt được nó. Bạn thích những gì bạn làm và thể hiện điều đó. Người ta muốn hợp tác với bạn vì họ thấy bạn nghiêm túc.

3. Lập kế hoạch

Cố gắng đạt mục đích mà không có kế hoạch hoạt động cũng giống như lái xe qua những con đường lạ dẫn tới một nơi rất xa. Lãng phí thời gian, công sức và tiền bạc có thể làm bạn phải bỏ cuộc sớm. Với kế hoạch trong tay, bạn sẽ vui vẻ và đến đích trong thời gian sớm nhất.

4. Sẵn sàng trả giá

Những người thành công thấy điều gì đáng trả giá để biến ước mơ thành sự thật. Họ không than phiền về công sức đã bỏ ra.

5. Không đầu hàng

Khi Jack Canfield và Mark Vitor Hansen biên soạn cuốn Chicken soup for the soul, họ bị hơn 100 nhà xuất bản từ chối. Họ vẫn tập trung vào mục đích và cũng có người đồng ý xuất bản. Bây giờ, đó là sách bán chạy nhất. Đó là sức mạnh của sự kiên trì.

Hãy dành nhiều thời gian vào việc đạt mục đích và ước mơ. Bạn nên tư vấn: “Điều tôi đang làm có đến gần mục đích không?”.

6. Đừng trì hoãn

Cơ hội không phải lúc nào cũng có. Người thành công luôn biết nắm bắt cơ hội, nỗ lực và đam mê hành động để thực hiện ước mơ. Bạn cũng có thể như vậy.

CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH: TƯƠNG VÀ BẤT

NHỮNG TƯƠNG ÐỒNG VÀ BẤT ÐỒNG GIỮA CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH


Posted Sat, 01/08/2011 - 08:36 by athu

Từ đầu thế kỷ XX, mọi Kitô hữu, nhất là ở các giáo hội Tây Phương, đã cảm thấy mối đe dọa chính đối với họ không còn đến từ “bọn Thệ Phản” đối với người Công Giáo, hoặc “phe Công Giáo La Mã” đối với những anh em Tin Lành (Protestant). Nhưng nó đã đến từ các chủ thuyết mới xuất hiện như cộng sản chủ nghĩa, quốc gia chủ nghĩa, khoa học chủ nghĩa, phàm tục chủ nghĩa (secularism), khoái lạc chủ nghĩa (hedoism), tình cảm chủ nghĩa, tà đạo chủ nghĩa (cultism) v.v… Những chủ thuyết mới này đã nhanh chóng chứng tỏ rằng chúng có khả năng làm biến đổi đời sống tinh thần cũng như vật chất của con người và trực tiếp đối chọi với những giá trị bất biến của Kitô giáo. Gần đây, lại có những thành phần quá khích của Hồi giáo đã tạo những cuộc khủng bố, hăm dọa sự an toàn của cả thế giới. Do đó, cùng với những nguyên nhân khác, các Kitô hữu (gồm Công Giáo, Chính Thống-Đông Phương, Tin Lành…) đã thấy sự cấn thiết phải ngồi lại với nhau, tạo một lực lượng chung đễ đương đầu với những thách đố mới.

Tuy vẫn có những tương đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành, nhưng các bất đồng đã và đang là trở ngại chính cho mọi nỗ lực hợp nhất. Ở đây, chúng tôi không muốn dùng tiếng “dị biệt” giữa các anh em Kitô, vì không thể có dị biệt giữa những người anh em, con của một Cha chung. Có chăng, chỉ là những bất đồng giai đoạn mà thôi. Tuy nhiên, giảm thiểu hoặc giản dị hóa những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành trong việc diễn giải Kinh Thánh, đã không thể gọi là một hành động nghiêm chỉnh và thành thật. Mặt khác, nếu không công nhận những tương đồng quan trọng giữa các giáo hội Kitô, sẽ bị cho là thiển cận và thiếu công tâm.

NHỮNG TƯƠNG ÐỒNG

Công Giáo và Tin Lành cùng chia sẻ một nhãn quan xuyên qua những sự kiện vật chất để hướng tới những gía trị tinh thần, đồng thời nhắc nhở con người sống cho cả hai cuộc sống đời này cũng như đời sau. Họ cùng tin vào Thiên Chúa và trung thành với Ðức Giêsu Kitô. Cùng công nhận 10 giới răn như lề luật cho mọi hành vi. Cùng tin rằng con người sau khi sa ngã, nếu không có sự giúp đỡ, tự con người không thể tìm được sự cứu rỗi nếu không có Ðấng Cứu Thế. Họ cùng đọc và tôn trọng Kinh Thánh, tuyên xưng cùng một kinh Tin Kính (của công đồng Nicaea) và cầu nguyện cùng một kinh Lạy Cha. Con người được gia nhập đời sống ân sủng và thánh thiện qua bí tích Rửa Tội, Thanh Niên nam nữ Công Giáo và Tin Lành có thể kết hôn với nhau và phép Hôn Phối đã được các giáo hội tôn trọng. Họ cùng mừng chung các lễ Giáng Sinh và Phục Sinh (trừ các giáo hội Chính Thống Ðông Phương), cùng công nhận các giảng huấn của các thánh Tông Ðồ, các văn bản thánh thiện và chia sẻ các bản thánh ca.

Trong sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio) của Công đồng Vatican II, các nghị phụ đã tuyên bố: “Một khi đã được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép Rửa Tội, họ (các anh em Tin Lành) đã được tháp nhập vào Chúa Kitô, và vì thế họ có quyền mang danh Kitô hữu, xứng đáng là con cái Chúa và và được giáo hội Công Giáo nhìn nhận là anh chị em trong Chúa.” (Ch.I, đ.3). Về các giáo hội Tin Lành, các nghị phụ cũng đã xác định: “Dù chúng ta tin là họ còn khiếm khuyết, nhưng chính các giáo hội và các cộng đồng tách riêng ấy vẫn chưa trở thành vô nghĩa và vô giá trị trong Mầu Nhiệm Cứu Rỗi. Vì Thánh Thần của Chúa Kitô không khước từ xử dụng họ như những phương tiện cứu rỗi mà năng lực phát xuất từ chính sự sung mãn của Ơn Thánh và Chân Lý đã được ủy thác cho giáo hội Cơng Giáo.” (ibid.)

NHỮNG BẤT ÐỒNG

Người ta có thể chia những bất đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành thành hai loại chính: Những bất đồng căn bản và những bất đồng “tai nạn.”

Các bất đồng tai nạn đã xảy ra theo thời gian và hoàn cảnh địa phương, nhu cầu kỷ luật, biến thiên lịch sử, hội nhập văn hóa mà các giáo hội cảm thấy hữu ích và chấp nhận. Những điều đó đã trở thành cá tính của một giáo hội Tin Lành. Trong trên 300 giáo hội Tin Lành khác nhau, đã không có giáo hội nào hoàn toàn giống giáo hội khác.

Tuy nhiên, chỉ những bất đồng căn bản mới thực sự là những trở ngại chính cho công cuộc hiệp nhất. Các Kitô hữu đã tin rằng con người khi được tạo dựng đã hoàn hảo, nhưng vì xử dụng tự do cách sai lầm nên đã bất tuân lệnh Chúa và sa ngã.

1. Con người sau tội tổ tông (Justification)

Bất đồng đầu tiên giữa Công Giáo và Tin Lành khởi đi từ quan niệm về bản tính của con người sau khi đã sa ngã. Người Công Giáo tin rằng: Sau khi sa ngã, những sung mãn của bản tính và ân sủng của con người đã bị suy yếu. Những ơn Chúa ban cho ông bà Nguyên Tổ trong vườn địa đàng đã bị mất hết. Những ơn đó là ơn siêu nhiên, sự bất tử của thân xác, sự vẹn toàn và không phải đau khổ. Nếu không có ơn Cứu Chuộc, con người sẽ không tự mình tìm đến Nhan Thánh Chúa được. Nhưng bản tính tiên khởi của con người vẫn còn.

Trong khi đó, ông Luther (Lu-Te) lại cho rằng sau khi sa ngã, con người đã mất hết. Tất cả những gì con người làm, kể cả việc thiện, đều gây phiền toái cho Chúa và không có ơn ích gì cả. Sự công chính hóa (justification) chỉ bởi đức tin mà thôi và ơn cứu chuộc là do Chúa ban cách riêng chứ con người không thể tự hưởng bằng những việc lành. Thuyết công chính hóa bởi đức tin đó đã đưa đến ba nguyên tắc khác: Chối bỏ việc con người có lòng muốn tự do (free will), chỉ có công chính hóa ngoại tại, và chối bỏ sự hữu ích của mọi việc thiện.

Ngược lại, người Công Giáo tin rằng con người có toàn quyền xử dụng lòng muốn tự do của mình, ngay cả việc từ chối ơn Chúa ban. Sau khi được công chính hóa toàn diện (bởi đức Tin và Phép Rửa) mọi việc thiện của con người đều nên công trạng. “Ðức tin nếu không có việc làm là đức tin chết.”

2. Ðức tin

Tin Lành: Ðức tin là tác động tối thượng, tin vào Chúa rằng Ngài sẽ cứu ta khỏi hỏa ngục và “che đậy” mọi tội lỗi của ta (Ngài chỉ che đậy chứ tội lỗi vẫn luôn luôn còn). Do đó, đức tin trở nên một hành động của lòng muốn và tình cảm.

Công Giáo: Ðức tin là một sự đồng ý với ơn Chúa mạc khải. Thí dụ: Khi Chúa Kitô nói phép rửa tội thì cần thiết để được cứu rỗi. Chúng ta chấp nhận câu tuyên bố này vì chúng ta tin vào Ngài. Ðức tin đối với người Công Giáo là một hành động của trí khôn.

3. Kinh Thánh

Tin Lành: Kinh Thánh có quyền tôn giáo tối thượng. Không chấp nhận những khẩu truyền kể từ sau thời các thánh Tông Ðồ.

Công Giáo: Chúa Kitô chỉ giảng dạy chứ không viết Kinh Thánh và tự bộ Kinh Thánh đã không được quyền tôn giáo tối thượng. Từ chối khẩu truyền là tự tiện và độc đoán.

Ðối với Tin Lành, mọi người đều có quyền và bổn phận diễn giải Kinh Thánh theo ý mình hiểu. Sự kiện này đã là nguyên nhân đưa đến việc phân chia giữa các giáo hội Tin Lành thành hàng trăm giáo hội khác nhau. Trong khi đó, Công Giáo tin rằng Giáo Hội dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Linh, là cơ quan duy nhất có quyền diễn giải Kinh Thánh. Ðể am tường Kinh Thánh, người ta đã phải thấu hiểu các nguyên ngữ nguyên bản của Kinh Thánh, thần học, lịch sử và khảo cổ học (Archaeology). Do đó, nếu không có những nhà chuyên môn trợ giúp, người ta có thể sẽ không hiểu hoặc hiểu Kinh Thánh cách sai lạc.

4. Quyền bính Ðức Giáo Hoàng

Tin Lành: Giáo hội thì vô hình, những giáo hữu của các giáo hội này chỉ có Chúa biết mà thôi. Ðứng đầu giáo hội là chính Chúa Kitô.

Công Giáo: Chỉ có một giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền do Chúa Kitô khai sáng. Người đứng đầu hữu hình của giáo hội là vị Ðại Diện Chúa Kitô, kế vị thánh Phêrô, là Ðức Giáo Hoàng, là vị Giám Mục thành Roma.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiều anh em Tin Lành đã tỏ mối thán phục và cảm tình với các ÐHG đặc biệt là Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

5. Những giáo huấn của giáo hội

Tin Lành: Không công nhận giáo hội là một tổ chức thánh thiện có quyền giảng dạy. Ðối với họ, giáo hội chỉ là một tổ chức thân hữu của những người tin vào Chúa Kitô và cùng chia sẻ Lời Chúa.

Công Giáo (và các giáo hội Ðông Phương): Tin Mừng Cứu Rỗi đến với từng cá nhân qua giáo hội với sự bảo đảm không bị sai lầm mà không một Kitô hữu nào dám tự nhận.

6. Các bí tích

Tin Lành: Từ chối tất cả các bí tích, trừ phép Rửa Tội và nghi thức Tiệc Ly, nhưng họ giữ hai điều này vì vâng theo thánh ý Chúa mà thôi. Các phép thống hối (giải tội), thêm sức, truyền chức thánh, hôn phối, và sức dầu bệnh nhân chỉ được giữ như những nghi thức của giáo hội chứ không phải là bí tích.

Về nghi thức tiệc ly (chứ không phải thánh lễ), người Tin Lành từ chối ý nghĩa “của lễ Hi Sinh” và đặt Lời Chúa thành trọng tâm của việc thờ phượng. Vì giáo hội vô hình, lại không có thánh lễ và năm bí tích khác nên chức linh mục cũng trở nên không cần thiết. Tất cả các tín hữu đều là linh mục mà lễ Truyền Chức là phép Rửa Tội. Tuy nhiên, một số người đã được huấn luyện cách đặc biệt, trở thành mục sư để điều hợp cộng đoàn.

Công Giáo: Công nhận tất cả 7 bí tích do Chúa lập ra. Bí tích Thánh Thể gồm cả Lời Chúa, hiến tế hi sinh, và chia sẻ Mình Thánh, chứ không phải chỉ có Lời Chúa mà thôi. Mọi người cùng tham dự vào thiên chức linh mục của Chúa Kitô và là những phần tử của Nhiệm Thể của Ngài. Một số người được ơn gọi đặc biệt làm linh mục để cử hành Hiến Lễ Hi Sinh.

7. Sự Tiền Ðịnh (Predestination)

Tin Lành: Chúa đã chọn một số người vào Thiên Ðàng, còn những người khác bị vào hỏa ngục, dù có ăn ngay ở lành thế nào cũng không thể thay đổi được ý Chúa.

Công Giáo: Hoàn toàn không chấp nhận thuyết này, vì theo đó, con người không còn có lòng muốn tự do, ngược hẳn với tín lý.

Ngoài ra, người Tin Lành còn chối bỏ luyện tội, họ cho rằng sau khi chết, linh hồn hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống hỏa ngục mà thôi. Mọi lời cầu nguyện cho kẻ chết đều không có ích gì cả. Họ cũng hủy bỏ việc sùng kính Ðức Mẹ và các Thánh.

NHỮNG HÒA ÐỒNG

Tinh thần hòa giải và hòa hợp hởi đi từ đầu thế kỷ XX đã đưa các giáo hội đến gần nhau hơn, không những chỉ qua lời nói và cử chỉ thân mật bề ngoài, nhưng cả trong thực hành nữa. Những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành đã thực sự được thu hẹp hơn. Ðặc biệt trong những thập niên sau công đồng Vatican II, thánh lễ đã được cử hành bằng các ngôn ngữ địa phương. Nội dung các bài giảng đã được chuẩn bị và chú trọng cách đặc biệt. Phần tham gia của các tín hữu (đáp ca, thánh ca) cũng được để ý và phát triển hơn. Giáo dân đã tham gia nhiều hơn vào các công tác phụng vụ và mục vụ. Ở nhiều nơi, giáo dân đã chịu Mình Thánh qua cả hình Bánh và hình Rượu như linh mục. Các Thày Sáu Vĩnh Viễn, thường là những người đã lập gia đình, được kể vào hàng giáo sĩ và có quyền giảng, rửa tội, ban phép hôn phối và cử hành nghi thức an táng… Một chiều hướng mục vụ đặc biệt dành cho các cặp hôn nhân giữa Công Giáo và Tin Lành cũng đã được đề cập tới.

Mặt khác, đã có nhiều anh em Tin Lành nhìn lại vai trò của Ðức Mẹ trong đời sống của các Kitô hữu cách nghiêm chỉnh hơn. Họ cũng thay đổi nhãn quan về vai trò và quyền bính của Ðức Giáo Hoàng. Các nhà thần học Công Giáo và Tin Lành đã hội họp với nhau và tìm ra rất nhiều lãnh vực tương đồng giữa các giáo hội mà trước đây người ta đã không nghĩ tới.

Sau khi nhấn mạnh rằng phép Rửa Tội “tạo nên mối giây hiệp nhất tất cả những người đã được tái sinh.” (Sắc Lệnh Hiệp Nhất, ibid. III, 22), các nghị phụ công đồng đã khảo sát đời sống Kitô hữu của các anh em Tin Lành: “Ðời sống Kitô hữu của các anh em ấy được nuôi dưỡng bằng Ðức Tin vào Chúa Kitô và được duy trì nhờ ân sủng của phép Rửa Tội và nhờ nghe Lời Chúa; đời sống ấy biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Kinh Thánh, trong đời sống gia đình Kitô giáo, trong việc phụng sự của cộng đoàn tụ hợp để ngợi khen Thiên Chúa.” (ibid.)

Với “con cái trong nhà” các nghị phụ đã ân cần nhắc nhở: “Ngày nay, ở nhiều nơi trên thế giới, nhờ Ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhằm tiến tới hiệp nhất đầy đủ, theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô đang được thực hiện bằng kinh nguyện, lời nói, việc làm, nên Công Ðồng này khuyến khích tất cả mọi người Công Giáo hãy nhận ra những dấu chỉ thời đại, hãy khéo léo tham gia vào công cuộc hiệp nhất này.” (ibid.I,4).


Nguồn: Vietcatholicnews